Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Hệ thống chính trị
Skip portletPortlet Menu
 
Doanh nghiệp
Skip portletPortlet Menu
 
du khách
Skip portletPortlet Menu
Could not find the specified library component: Nav_dukhach
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
Điều kiện tự nhiên về Đô Lương (22/08/2016 04:32 PM)

I, Điều kiện tự nhiên

1. Vị trí địa lý

Đô Lương là huyện thuộc khu vực đồng bằng, nằm ở phía Tây của tỉnh Nghệ An, có đặc điểm địa hình dạng bán sơn địa. Với tổng diện tích tự nhiên trong địa giới hành chính là 35.008,35 ha. Toạ độ địa lý: 105015' đến 105045' Kinh độ Đông và 18055' đến 19010' Vỹ độ Bắc.

Địa giới hành chính của huyện được xác định như sau:

+ Phía Bắc giáp huyện Tân Kỳ;

+ Phía Đông giáp huyện Yên Thành và huyện Nghi Lộc;

+ Phía Nam giáp huyện Nam Đàn và huyện Thanh Chương;

+ Phía Tây giáp huyện Thanh Chương và huyện Anh Sơn.

Huyện Đô Lương có 33 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn, trong đó thị trấn Đô Lương là trung tâm huyện, vị trí của huyện là giao điểm của các đường giao thông chính như: Quốc lộ số 7, quốc lộ 46 và quốc lộ 15 nên có điều kiện để giao lưu và mở rộng quan hệ kinh tế, văn hoá, xã hội với các địa phương trong và ngoài tỉnh Nghệ An, giữa nước ta và nước bạn Lào.

2. Địa hình, địa mạo

Huyện Đô Lương là một vùng được giới hạn bởi vùng núi Tây Bắc (huyện Tân Kỳ), vùng núi Tây Nam (huyện Thanh Chương, Anh Sơn) và vùng đồng bằng (huyện Yên Thành, Nghi Lộc, Nam Đàn).

- Trên cơ sở những đặc điểm về điều kiện địa hình huyện Đô Lương được phân thành 4 vùng với những đặc điểm như sau:

+ Vùng bán sơn địa Tây Bắc gồm 7 xã là: Ngọc Sơn, Lam Sơn, Bồi Sơn, Giang Sơn Đông, Giang Sơn Tây, Hồng Sơn và Bài Sơn. Đặc điểm của vùng này là xen kẽ 2 dạng địa hình đồi và thung lũng. Địa hình đồi chạy theo hướng Đông Bắc (từ xã Giang Sơn Tây đến Ngọc Sơn) và dạng địa hình thung lũng (dạng thung lũng lòng chảo có suối chảy qua gồm các xã Giang Sơn Đông, Hồng Sơn, Bài Sơn; dạng thung lũng dốc nghiêng gồm các xã Bồi Sơn, Lam Sơn).

+ Vùng ven bãi sông Lam gồm 7 xã là: Nam Sơn, Bắc Sơn, Đặng Sơn, Lưu Sơn, Đà Sơn, Trung Sơn và Thuận Sơn.

+ Vùng đồng bằng (vùng trọng điểm lúa) gồm 14 xã là: Tràng Sơn, Đông Sơn, Yên Sơn, Văn Sơn, Thịnh Sơn, Hoà Sơn, Lạc Sơn, Xuân Sơn, Minh Sơn, Tân Sơn, Quang Sơn, Thái Sơn, Thượng Sơn và thị trấn Đô Lương. Đặc điểm của vùng này là địa hình tương đối bằng phẳng, ở độ cao từ 9m đến 11m, xung quanh có nhiều vùng đồi chia cắt, có hệ thống ngòi lạch của sông Rầu Gang nên dễ thoát nước.

+ Vùng bán sơn địa Đông Nam gồm có 5 xã là Hiến Sơn, Nhân Sơn, Mỹ Sơn, Trù Sơn và Đại Sơn. Vùng địa hình này đặc điểm là có các dãy đồi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam xen kẽ 2 loại địa hình đồi và thung lũng dốc nghiêng.

- Xét về độ dốc thì diện tích của huyện được phân loại như sau: Độ dốc từ 00 đến 80 có khoảng 22.399 ha - 22.500 ha (chiếm 63%); độ dốc từ 80 đến 150 có khoảng 4.271 - 4.500 ha (chiếm 12%); độ dốc từ 150 đến 250 có khoảng 2.491 - 2.500 ha (chiếm 7%) và độ dốc từ trên 250 có khoảng 6.328 - 6.500 ha (chiếm 18%).

3. Khí hậu

Đô Lương có chế độ khí hậu phức tạp, mang tính chất khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều song phân bố không đều giữa các tháng trong năm, khí hậu được chia làm 2 mùa, đó là mùa Đông và mùa Hè; ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam (gió Lào).

- Nhiệt độ: Nhiệt độ bình quân hàng năm từ 230- 240C; nhiệt độ cao nhất trong năm là 400C- 410C (tháng 7) và nhiệt độ thấp nhất trong năm là 120C (tháng 1).

- Nắng: Số giờ nắng trung bình trong năm khoảng 1.500 - 1.700 giờ, bình quân trong tháng khoảng 1.668 giờ. Các tháng có nắng nhiều là tháng 5, tháng 6 và tháng 7, bình quân tới 7 đến 8 giờ/ngày. Tháng ít nắng nhất là tháng 2 bình quân có 1,6 giờ/ngày.

- Lượng mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.879 mm, tập trung chủ yếu vào tháng 3; thời gian từ tháng 8 đến tháng 10 lượng mưa bình quân trên 1.000mm, chiếm 60% lượng mưa cả năm.

Trong những tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 7 năm sau) thì lượng mưa thấp (khoảng 750mm) trong khi đó lượng nước bốc hơi lại lớn do nhiệt độ những tháng này cao vì vậy thường gây hạn hán cho vụ chiêm xuân.

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí bình quân 85%; tháng có độ ẩm thấp nhất là 50% (tháng 6, tháng 7) và tháng có độ ẩm cao nhất là 95% (tháng 10, tháng 11).

- Gió, bão: Hàng năm huyện thường phải chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính là gió Tây Nam và gió mùa Đông Bắc.

Gió Tây Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9, mạnh nhất từ tháng 6 đến tháng 7. Gió Tây Nam ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất vụ Đông Xuân (thời kỳ ra hoa, thu hoạch), gieo cấy hè thu và vụ mùa.

Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau, do nhiệt độ không khí xuống thấp, giá rét kéo dài ảnh hưởng đến gieo trồng vụ Đông Xuân.

Tuy có tiềm năng nhiệt lượng phong phú có tác dụng lớn đến quá trình sinh trưởng, phát triển cây trồng vật nuôi; song Đô Lương lại nằm trong khu vực Miền Trung nên hàng năm chịu ảnh hưởng từ 4 đến 5 cơn bão đổ bộ vào, gây hiện tượng mưa to kèm với dòng chảy mạnh của các con sông lớn gây lũ lụt, làm tăng các hiện tượng xâm thực bào mòn, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân; có những cơn mưa bão, lũ lụt lớn đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản như tốc mái đổ nhà, đổ cây, huỷ hoại mùa màng, làm ô nhiễm môi trường.

4. Thuỷ văn

Chế độ thuỷ văn của huyện phụ thuộc lớn nhất từ 2 con sông chính là sông Lam chảy qua địa phận huyện Đô Lương khoảng 20 km, sông Đào khoảng 9 km. Đây là những con sông có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế như cung cấp nước chính cho sản xuất nông nghiệp và đồng thời cũng là tiêu thoát nước; phát triển giao thông đường thuỷ, giao lưu khu vực giữa các vùng trong tỉnh, ngoài ra còn tạo môi trường sinh thái, phát triển du lịch... không chỉ riêng cho huyện mà cho cả tỉnh Nghệ An.

Ngoài ra chế độ thuỷ văn của huyện còn chịu ảnh hưởng bởi sông Khuôn và các khe suối nhỏ như khe ngầm Lam Sơn, Hói Quai (Bồi Sơn), Hói Cấm (Tân Sơn) và các ao hồ... trong khu dân cư.

Chính vì vậy, ngoài những yếu tố thuận lợi thì huyện còn phải chịu ảnh hưởng từ hiện tượng lũ lụt hàng năm do nguồn nước đổ về các sông, khe suối và hồ chứa nên đã gây ngập úng vào mùa mưa.

II. Điều kiện kinh tế, xã hội:

- Về dân số: Theo kết quả niên giám thống kê 2010 - 2013, dân số huyện Đô Lương cuối năm 2013 là 199.347 người trong đó nữ là 102.164 người. Toàn huyện có 50.906 hộ, lao động trong độ tuổi là 105.726 người rong đó lao độngnữ là 55.904 người. Toàn bộ là dân tộc kinh.

- Theo số liệu của Chi cục Thống kê Đô Lương, các chỉ tiêu về kinh tế xã hội huyện Đô Lương tính theo phương pháp cũ như sau:

TT

Chỉ tiêu

ĐVT

Năm 2010

Năm 2015

Đánh giá thực hiện

MTQH

Thực hiện

MTQH

MT ĐH XIX

Ước thực hiện

Ước 2015/QH 2015 (%)

ước 2015/ MTĐH (đạt, không đạt)

ước 2015/ MTQH (đạt, không đạt)

1

Tốc độ tăng trưởng VA (2011 - 2015)

%

14,6

8,8

13,31

13,50

9,6

72,13

k. đạt

k. đạt

2

VA bình quân đầu người (HH)

Tr. đồng

16,21

15,62

32,89

32,5

30,25

91,97

k. đạt

k. đạt

3

Cơ cấu kinh tế


100

100

100

100

100





Nông, lâm, ngư

%

29,65

32,32

22,74

25,24

26,67

117,28




Công nghiệp - XD

%

23,19

23,23

24,61

28,13

26,68

108,41




Dịch vụ

%

47,16

44,45

52,65

46,63

46,65

88,6



4

Tổng thu ngân sách

Tr. đồng

123.000

132.619

246.000

183.072

150.600

61,22

k. đạt

k. đạt

5

Tổng chi NS

Tr. đồng

235.700

330.571


358.520

704.139




6

Tỷ lệ hộ nghèo (TC mới)

%

10

15,9

7

5

5

71,43

Đạt

Đạt

III. Các nguồn tài nguyên

1. Tài nguyên đất

Theo tài liệu điều tra nghiên cứu thổ nhưỡng thì trên địa bàn huyện có 5 nhóm đất chính với 06 loại khác nhau, như sau:

- Nhóm đất phù sa: Nhóm đất phù sa được phân bố ở những vùng đồng bằng và thung lũng của các xã vùng bán sơn địa Tây Bắc và Đông Nam của huyện, có diện tích khoảng 15.770 ha, chiếm 44,47% diện tích tự nhiên; trong nhóm đất phù sa có các loại:

+ Đất phù sa được bồi hàng năm có diện tích khoảng 910 ha, chiếm 5,70% nhóm đất phù sa, được phân bố ở các xã dọc theo sông Lam. Đặc điểm của loại đất này là hàm lượng chất dinh dưỡng khá, trung tính, ít chua, thành phần cơ giới nhẹ, thích hợp với cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày.

+ Đất phù sa không được bồi có diện tích khoảng 13.405 ha, chiếm  37,80% được phân bố ở các dạng địa hình khác nhau, trong quá trình phát triển do chịu ảnh hưởng của các quá trình hình thành đất khác nhau nên đã hình thành các loại phụ có tính chất lý, hoá khác nhau, như:

+ Đất phù sa không được bồi, không glây, không kết vón, phân bố ở địa hình vàn, đất có màu xám sẫm hoặc vàng nhạt, gần 50% loại đất này có thành phần cơ giới nhẹ, ít chua, độ phì khá.

+ Đất phù sa không được bồi có sản phẩm Feralitic phân bố ở địa hình vùng cao và các xã bán sơn địa; trong quá trình phát triển bị Feralít hoá, đất có phản ứng chua, nghèo mùn, tốc độ phân giải chất hữu cơ nhanh; loại đất này thích hợp cho trồng lúa, lúa màu và cây công nghiệp ngắn ngày.

+ Đất phù sa không được bồi bị Glây phân bố ở địa hình vùng thấp (thuộc các xã tiếp giáp với sông Khuôn); loại đất này hàng năm thường bị ngập nước, quá trình glây trong đất xảy ra mạnh, đất có màu xám xanh, thành phần cơ giới nặng vì vậy trước khi canh tác cần tháo nước, cày ải đồng thời bón vôi và lân.

- Đất bạc màu có diện tích khoảng 145 ha, chiếm 0,40%; được phân bố ở địa hình vùng cao của các xã tiếp giáp với đồi núi. Do đặc điểm của địa hình nên hàng năm đất bị rửa trôi mạnh, nghèo chất dinh dưỡng, có phản ứng chua, thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu rời rạc.

- Ngoài ra trong nhóm đất phù sa còn có đất phù sa lầy úng và đất phù sa ngoài suối phân bố ở địa hình thấp, quá trình glây mạnh, đất lầy thụt; loại đất này chủ yếu phù hợp trồng một vụ lúa chiêm.

- Nhóm đất dốc tụ: Nhóm đất này có khoảng 266 ha, chiếm 0,75% diện tích tự nhiên của huyện; được phân bố ở thung lũng của các xã vùng Tây Bắc, thành phần cơ giới thường trung bình hoặc nhẹ, do sự hình thành của chúng phụ thuộc vào sản phẩm dốc tụ, đất có phản ứng chua, loại đất này thích hợp với trồng lúa.

- Nhóm đất nâu vàng: Nhóm đất này có diện tích khoảng 145 ha, chiếm 0,40% diện tích tự nhiên của huyện; được phát triển trên phù sa cổ và lũ tích, phân bố rải rác thành các giải đồi thấp, lượn sóng thuộc các xã Bồi Sơn, Hồng Sơn, Giang Sơn... loại đất này thích hợp trồng cây công nghiệp dài ngày như chè, trẩu, cam chanh, bưởi, dẻ...

- Nhóm đất Feralít đỏ vàng vùng đồi: Nhóm này có diện tích khoảng 10.420 ha, chiếm 29,39% diện tích tự nhiên của huyện; gồm các loại sau:

+ Đất Feralít đỏ vàng phát triển trên đá vôi: Loại đất này có diện tích khoảng 25 ha; tập trung chủ yếu xung quanh lèn đá vôi thuộc các xã Bồi Sơn, Giang Sơn Đông, Giang Sơn Tây, Bài Sơn; đặc điểm đất có tầng dày, ít thịt.

+ Đất Feralít đỏ vàng phát triển trên phiến sét: Loại đất này có diện tích khoảng 9.500 ha, chiếm 26,79% được phân bố ở các xã vùng Tây Bắc và các xã bán sơn địa vùng giữa; đặc điểm là thành phần cơ giới thịt trung bình đến thịt nặng, có khả năng giữ nước tốt; loại này thích hợp trồng cây hoa màu và cây lâu năm.

+ Đất Feralít đỏ vàng phát triển trên đá cát kết: Loại đất này có diện tích khoảng 270 ha, chiếm 0,76% được phân bố ở các xã Đại Sơn, Mỹ Sơn và Minh Sơn; đặc điểm là đất có màu vàng, kết cấu tương đối rời rạc, thấm nước nhanh và dễ bị rửa trôi, đất chua và thành phần cơ giới nhẹ, nghèo mùn, khả năng trao đổi thấp, nghèo chất dinh dưỡng.

+ Đất Feralít đỏ vàng phát triển trên Macma axit: Loại đất này có diện tích khoảng 690 ha, chiếm 1,95%; đặc điểm là đất có màu đỏ đến vàng nâu, tầng đất mỏng, có thể khai thác để trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày.

+ Đất Feralít xói mòn trơ sỏi đá: Nhóm đất này có diện tích khoảng 7.540 ha, chiếm 21,26%; được phân bố ở các xã đồi núi, đặc điểm là tầng đất dày không quá 30cm có lẫn nhiều sỏi đá, nhiều nơi đá mẹ trơ trên bề mặt; một phần diện tích đã được khai thác trồng chè trong vườn của các hộ gia đình, diện tích còn lại phát triển lâm nghiệp như trồng cây bạch đàn.

2. Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt: Hệ thống sông suối, mặt nước trên địa bàn huyện có diện tích 1.708,69 ha, chiếm 4,80% diện tích tự nhiên. Nguồn nước mặt dồi dào, phong phú từ các sông như sông Lam, sông Đào, sông Khuôn, các khe, lạch trong các sườn đồi, các ao hồ trong khu dân cư và lượng mưa hàng năm nhiều nên đủ để đáp ứng nhu cầu sản xuất như trồng lúa, màu, trồng cây hàng năm khác... ở tất cả các xã trong huyện và phục vụ đời sống của nhân dân. Tuy nhiên do địa hình và vị trí địa lý nên vẫn xảy ra hiện tượng hạn hán, nhất là vào mùa hè và vùng bán sơn địa Tây Bắc và Đông Nam.

- Nguồn nước ngầm: Cũng rất đa dạng và phong phú, nhân dân vẫn đang khai thác để sử dụng. Ngoài ra còn có nguồn nước khoáng Vĩnh Giang đang lập kế hoạch đưa vào khai thác và sử dụng. Tuy nhiên nguồn nước ngầm cần được quản lý khai thác, đánh giá trữ lượng và chất lượng cũng như yêu cầu bảo vệ môi trường.

3. Tài nguyên rừng

So với các huyện đồng bằng trong tỉnh thì Đô Lương là huyện có diện tích rừng khá lớn. Phần lớn diện tích rừng là rừng trồng (Thông) đã vào giai đoạn khép tán và phát triển tốt. Đây là vùng nguyên liệu lớn cho sự phát triển chế biến nhựa Thông đem lại giá trị kinh tế lớn cho huyện trong tương lai. Rừng tự nhiên phần lớn là rừng nghèo do hậu quả chặt phá rừng trong những năm trước đây, hiện nay đang được giao, khoanh nuôi, bảo vệ, phục hồi có hiệu quả.

+ Khai thác gỗ, kể cả cho nguyên liệu giấy: 22.500 tấn/năm.

+ Khai thác nhựa thông: 250 tấn/năm.

+ Ngoài ra nhờ có nhiều thuận lợi về giao thông nên hàng năm có một nguồn lâm sản rất lớn từ các huyện miền núi và từ một số nước bạn được nhập khẩu đưa về bằng đường bộ và đường thủy, tạo điều kiện cho ngành chế biến lâm sản phát triển.

Rừng giữ vai trò quan trọng không chỉ về kinh tế mà còn đảm bảo phòng hộ, cải tạo môi trường sinh thái, an ninh quốc phòng, góp phần hạn chế lũ lụt, hạn hán xảy ra ở hạ lưu. Vì vậy cần có biện pháp khai thác, bảo vệ rừng hợp lý.

4. Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn huyện có tài nguyên khoáng sản đa dạng nhưng trữ lượng và hàm lượng không cao, điều kiện khai thác không thuận lợi, chủ yếu là khoáng sản để chế biến vật liệu xây dựng, như:

- Đá vôi, đá xây dựng tập trung ở các xã như Giang Sơn Tây, Hồng Sơn, Bài Sơn, Nhân Sơn, Đại Sơn, Mỹ Sơn, Trù Sơn... trữ lượng trên 200 triệu m3.

- Đất sét, cao lanh có hàng trăm ha, hàng năm có thể sản xuất hàng chục triệu viên gạch nung.

- Cao lanh tập trung ở xã Đại Sơn, diện tích khoảng 9 ha; đây là nguồn nguyên liệu để làm đồ gốm.

- Cát sỏi tập trung dọc sông Lam thuộc các xã Tràng Sơn, Đà Sơn, Trung Sơn, Đặng Sơn, Ngọc Sơn, Lam Sơn, Bồi Sơn, Thuận Sơn... có trữ lượng khoảng 20 triệu m3; đặc điểm là cát mịn, tỷ lệ tạp chất ít nên có chất lượng cao trong xây dựng và điều kiện khai thác thuận lợi.

- Nước khoáng ở Vĩnh Giang - xã Giang Sơn Tây, thành phần chủ yếu là Bicacbonat - natri với lưu lượng nước 0,05 lít/s.

Trong những năm qua tình hình khai thác còn thiếu quy hoạch, chủ yếu là khai thác thủ công, tự phát, mang lại hiệu quả kinh tế chưa cao, việc bảo vệ môi trường chưa đảm bảo.

Trong thời gian tới (đến năm 2020) tỉnh đã thăm dò và có quy hoạch các vùng nguyên liệu gốm sứ ở Trù sơn, Đại Sơn... vùng nguyên liệu đá vôi ở Trù Sơn, Nhân Sơn; hơn nữa Nhà máy xi măng Đô Lương đi vào hoạt động thì khả năng khai thác và sử dụng các loại khoáng sản trên địa bàn huyện sẽ có hiệu quả hơn; hoạt động khai thác và sử dụng khoáng sản sẽ góp phần lớn vào việc phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện.

5. Tài nguyên nhân văn

Đô Lương từ lâu có tiếng là hiếu học; nhiều tên đất, tên làng, tên núi thể hiện thái độ trân trọng của nhân dân đối với việc học hành, khoa cử; Người dân ở đây rất quý trọng thuần phong, mỹ tục và biết sáng tạo ra các giá trị văn hoá; nhiều đền, chùa, miếu mạo... được xây dựng qua các triều đại với những nét kiến trúc khá tinh vi... như đền Mượu (ở Bồi Sơn), đình Lương Sơn (ở Bắc Sơn), đình Long Thái (Thái Sơn)... đều gắn với những sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ.

 
 |  Đầu trang
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu